Giới thiệu về trường

Ngày tạo: 10/04/2015 - In Trang (Ctrl + P)

1.Lịch sử phát triển:

        Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng buổi đầu có tên là trường Cơ Khí Á Châu, là một trong những trường dạy nghề đầu tiên ở Nam Bộ, được Thực dân Pháp lập ra ngày 20-2-1906 với ý đồ đào tạo chuyên viên kỹ thuật sơ cấp hải quân và một số ngành kỹ thuật khác đáp ứng nhu cầu của bộ máy thuộc địa, chủ tư bản.

      Thực dân Pháp toan lấy trường làm công cụ cai trị nhưng ngược với ý đồ của chúng, nhiều thế hệ thầy trò trường Cao Thắng đã biến nhà trường thành lò đào tạo hàng ngàn học sinh thành những công nhân, vừa giỏi tay nghề vừa có lòng yêu nước. Mở đầu sổ vàng truyền thống của trường là Chủ tịch Hồ Chí Minh học 3 tháng đầu năm 1911 trước khi Người lên tàu tìm đường cứu nước. Kế tục Bác Hồ là người học sinh nghề máy Tôn Đức Thắng (khoá 1915 – 1917), người đã kéo lá cờ phản chiến trên chiến hạm pháp ở biển Đen (ngày 20-4-1919), lập Công Hội đỏ ở trường, ở Ba Son, và tại Sài Gòn, sau này ở cương vị chủ tịch nước.

      Từ rất sớm, học sinh trường Cao Thắng đã bãi khóa, rải truyền đơn để cùng học sinh các trường bạn và nhân dân Sài Gòn để tang cụ Phan Chu Trinh (1925), đòi tự do cho cụ Phan Bội Châu (1926), phản đối nhà cầm quyền thuộc địa đã bắt giam vô cớ nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926).

       Năm 1932, chi bộ Đảng Cộng Sản Đông Dương đầu tiên được thành lập tại trường (bí thư chi bộ là Trần Hữu Tám, sau này là Hiệu Trưởng thứ 13 của trường, từ năm 1975 đến năm 1980). Học sinh Cao Thắng hoạt động ngày càng mạnh trong phong trào mặt trận dân chủ (1936 – 1939), câu lạc bộ học sinh (1939 – 1940) nhằm đánh thức lòng yêu nước và trách nhiệm trước lịch sử của thanh niên học sinh. Đến Nam kỳ khởi nghĩa (1940), học sinh Cao Thắng đã rèn vũ khí phục vụ cho chiến đấu. Sổ vàng truyền thống của nhà trường còn ghi tên tuổi của những học sinh tiêu biểu cho các giai đoạn sôi động nói trên như: Lê Văn Lưỡng, Ka Hiêm, Tạ Văn Hảo, Trần Hữu Tám, Hồ Tố Nguyên, Nguyễn Văn Đọt…

        Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam, chín năm chống pháp là chín năm thách thức, nhiều học sinh của trường đã cầm súng chiến đấu, mặt đối mặt với quân thù, hoặc phục vụ ở những ngành kỹ thuật hậu cần của kháng chiến. Một số học sinh đã vĩnh viễn ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc như Đoàn Văn Bơ (thường vụ khu ủy Sài Gòn), Lê Văn Nhựt, Đoàn Văn Mẹo, Từ An Ri…

       Năm 1954, Mỹ thay chân Pháp đưa Ngô Đình Diệm về nước. Ngày 29-6-1956 chính quyền Diệm ký nghị định đổi tên trường thành trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng. Theo nghị định này mục tiêu đào tạo của trường là “đào tạo kỹ thuật viên bậc trung đẳng của ngành kỹ nghệ, cùng đào luyện cho những học sinh, cho bậc tú tài kỹ thuật”. Từ đó, với 1.600 học sinh, trường Cao Thắng trở thành trường trung học kỹ thuật lớn nhất miền Nam.

      Do mục tiêu đào tạo như vậy nên đa số học sinh được tuyển vào trường là con em gia đình bình dân. Nên ngay từ lúc bước chân vào trường, học sinh Cao Thắng đã mang nhiều nỗi bất bình với những bất công trong xã hội cùng với hoài bão ước mơ “đổi đời”. Học sinh Cao Thắng có tinh thần đoàn kết tương ái rất cao, ghét kẻ ỷ mạnh hiếp yếu, có tinh thần nghĩa hiệp, được hun đúc trong lao động kỹ thuật nên học sinh Cao Thắng dễ gần gủi với mục tiêu lý tưởng của Đảng, sẳn sàng hành động khi có tình thế chính trị tác động trực tiếp.

      Trường tọa lạc ngay trung tâm của thủ đô chế độ Sài Gòn, trọng điểm của các cuộc đấu tranh. Từ cuộc đấu tranh đuổi tàu Mỹ đầu tiên ngày 19-3-1950 tại chợ Bến Thành và các cao trào đấu tranh sau này trên trục Lê Lợi – Nhà hát Thành Phố và đây cũng chính là nơi tập trung diễn ra các cuộc đàn áp khủng bố của các chế độ tay sai ngoại bang.

      Chế độ Mỹ - Ngụy ngay từ đầu đã bộc lộ bản chất bán nước và cướp nước tạo nên sự đối kháng trong các tầng lớp đồng bào Sài Gòn – Gia Định. Không khí nóng bỏng chính trị đó đã thường trực thổi vào chất liệu dễ bắt lửa: học sinh Kỹ Thuật Cao Thắng và ở đó bùng nổ đấu tranh.

     Đó là một phong trào đấu tranh liên tục được phát khởi từ khi Mỹ can thiệp vào miền Nam cho đến những ngày cuối cùng của chế độ Mỹ - Ngụy từ những khẩu hiệu đòi quyền lợi học sinh đến khẩu hiệu đòi dân sinh dân chủ, chống đàn áp đến những khẩu hiệu đòi lật đổ chế độ Sài Gòn, đuổi Mỹ. Phong trào của trường luôn thể hiện là ngòi pháo xung kích của phong trào HSSV nhất là trong những thời điểm quan trọng, quyết định của phong trào thành phố như cao trào lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương năm 1963 – 1964, cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, cao trào chống Mỹ -Thiệu những năm 1970 và tham gia khởi nghĩa khu Bàn Cờ - Vườn Chuối trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Đó là phong trào đấu tranh mang tính đối kháng, bạo lực mạnh mẽ. Học sinh Cao Thắng được xem như lực lượng xung kích đột phá duy trì khí thế đấu tranh khi phong trào bị địch đàn áp khủng bố hay bị bọn côn đồ trấn áp. Từ những cuộc đột kích đốt bót Lê Văn Ken đến các cuộc phá vòng vây cho trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ đến việc trấn áp bọn phản động muốn chiếm lĩnh tổng hội sinh viên, tổng đoàn học sinh, lập phòng tuyến chống đàn áp bảo vệ trường. Từ đó Cao Thắng trở thành điểm hội tụ liên kết giữa các trường, chỗ dựa cho việc hình thành các trung tâm công khai chung của HSSV thành phố mà tiêu biểu nhất là tổng đoàn học sinh. một thời màu áo xanh kỹ thuật là biểu tượng khí thế đấu tranh của học sinh Cao Thắng.

Nhiều học sinh Cao Thắng đã đứng vào các tổ chức Đảng, Đoàn, làm nòng cốt cho các tổ chức công khai, bán công khai của trường, gắn phong trào đấu tranh của trường với cuộc đấu tranh chống Mỹ của thanh niên và đồng bào Sài Gòn – Gia Định như Trần Văn Đúng, Nguyễn Kiên Trung, Nguyễn Tấn Á, Lê Văn Nuôi, Lê Thanh Đạo, Phạm Xuân Bình... nhiều cán bộ, cơ sở cách mạng xuất thân là học sinh Cao Thắng chiến đấu dũng cảm trên nhiều trận tuyến ngay cả trong các lao tù ác liệt của Mỹ-Ngụy, và nhiều người đã hy sinh trong tư thế lẫm liệt như: Bùi Minh Trực, Lê Văn Ninh, Đàm Thanh Quang…

       Hoạt động Đoàn và phong trào đấu tranh của học sinh Cao Thắng chống Mỹ đã tạo ra dấu ấn tốt đẹp trong lòng thanh niên và nhân dân Sài Gòn. Thanh niên Thành phố xem trường Cao Thắng như một cứ địa chiến đấu ở trung tâm thành phố. Chế độ Mỹ-Ngụy xem trường Cao Thắng như một cái gai khó nhổ nơi đầu não của chúng. Tháng 3/1975, trong những giờ phút hấp hối của chế độ Sài Gòn, Mỹ-Ngụy mới nhận ra rằng “còn trường Cao Thắng là còn đấu tranh”, không còn cách nào dập tắt được ngọn lửa cách mạng tại đây nên chúng cho đóng cửa trường không thời hạn. Nhưng trường Cao Thắng đã tồn tại và đã ghi lại trang sử đấu tranh chống Mỹ như là một mũi nhọn xung kích góp phần xứng đáng vào phong trào đấu tranh của thanh niên và nhân dân SàiGòn-Gia định.

        Những ngày tháng đấu tranh là những kỷ niệm hào hùng khó phai trong lòng mỗi học sinh Cao Thắng. Đó là niềm tự hào chính đáng của tuổi học trò vì đại cuộc có lúc phải “biến dụng cụ học tập thành vũ khí đấu tranh” “biến nhà trường thành chiến lũy”.

       Ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng là ngày trường được mở cửa trở lại. Trường tập trung đào tạo học sinh trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật giỏi nghề đạt nhiều thành quả tốt đẹp và được nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu cao quý. Thế hệ học sinh này lại tiếp tục phát huy phẩm chất của lớp đàn anh “thợ cơ khí”, ”chuyên viên kỹ thuật “, “tú tài kỹ thuật” trước đây, đạt nhiều thành quả tốt đẹp trong học tập và rèn luyện, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.

       Những thành tích cống hiến của những Anh hùng lao động: Trần Văn Danh, Tôn Thọ Khương, Võ Tòng Xuân, Ong Quang Nhiêu, Nguyễn Tấn Quang xuất thân từ lớp đàn anh cùng những tấm gương học giỏi, lao động sáng tạo của học sinh trường ngày càng có những điểm son trong bảng vàng truyền thống Trường.

      Truyền thống yêu nước, đoàn kết, giỏi nghề được nhiều thế hệ thầy và trò của trường kế tục nhau vun bồi trong gần trọn thế kỷ qua mãi mãi là hành trang quý giá cho các thế hệ học sinh mặc áo màu xanh và mang huy hiệu “Cao Thắng”.

-------------------

2.Cơ cấu tổ chức:

Ban Giám hiệu:

  1. Hiệu trưởng:                            Tiến sĩ  ĐÀO KHÁNH DƯ
  2. Phó Hiệu trưởng đào tạo:        Tiến sĩ LÊ XUÂN LÂM
  3. Phó Hiệu trưởng hành chính:  Thạc sĩ NGUYỄN CÔNG THÀNH
  4. Phó Hiệu trưởng:                     Tiến sĩ LÊ ĐÌNH KHA      

Các phòng chức năng:

  • Phòng Tổ chức Hành chính
  • Phòng Đào tạo
  • Phòng KHCN và Hợp tác quốc tế
  • Phòng Quản trị-Đời sống
  • Phòng Tài chính-Kế toán
  • Phòng Công tác Chính trị-HSSV

Các khoa chuyên ngành và bộ môn:

  • Khoa Cơ khí: Gồm các bộ môn: Bộ môn Chế tạo cơ khí, Bộ môn Sửa chữa cơ khí, Bộ môn Cơ điện tử
  • Khoa Cơ khí động lực: Gồm các bộ môn:Bộ môn Kỹ thuật cơ sở, Bộ môn Kỹ thuật Ôtô
  • Khoa Điện – Điện lạnh: Gồm các bộ môn:Bộ môn Điện công nghiệp, Bộ môn Tự động hoá, Bộ môn Điện lạnh
  • Khoa Điện tử – Tin học: Gồm các bộ môn:Bộ môn Điện tử công nghiệp, Bộ môn Điện tử viễn thông, Bộ môn Tin học
  • Khoa Giáo dục đại cương: Gồm các bộ môn:Bộ môn LLChính trị-Q.sự-Thể dục, Bộ môn Văn hoá – Ngoại ngữ
  • Bộ môn Kinh tế (Trực thuộc Hiệu trưởng)

Các trung tâm đào tạo ngoài giờ:

  • Trung tâm Ngoại ngữ
  • Trung tâm Tin học
  • Trung tâm đào tạo nghề ngắn hạn (nâng bậc thợ)